Monday, June 15, 2026

 


Ý Nghĩa Của Việc Tụng 108 Biến

Mỗi lần tụng Chú Dược Sư 108 biến, người trì tụng không chỉ đơn giản là đọc lời chú mà là một hành động tâm linh sâu sắc. Việc tụng niệm không chỉ nhằm mục đích chữa lành bệnh tật hay giải quyết vấn đề trong cuộc sống, mà còn là một cách để chuyển hóa tâm thức.

  1. Thanh tịnh hóa tâm hồn: Chú Dược Sư giúp thanh lọc những phiền não, tâm trí được làm sạch, từ đó không còn bị vướng bận bởi những suy nghĩ tiêu cực. Tụng chú 108 biến chính là cách để người tu tập rèn luyện sự tập trung và duy trì một tâm thái an lạc.
  2. Giải trừ bệnh tật: Chú Dược Sư được biết đến với khả năng chữa lành bệnh tật. Khi trì tụng, không chỉ các phiền não về mặt tinh thần được hóa giải mà cơ thể cũng nhận được sự thanh lọc, từ đó sức khỏe được cải thiện.
  3. Giải thoát khỏi những đau khổ: Theo quan điểm Phật giáo, khi người ta gặp phải đau khổ, một phần là do các phiền não trong tâm. Việc trì tụng Chú Dược Sư giúp đối diện và vượt qua những đau khổ này, từ đó tìm thấy được sự bình an và giải thoát trong cuộc sống.
  4. Tạo công đức và phước báu: Việc tụng niệm 108 biến không chỉ giúp bản thân mà còn mang lại lợi ích cho người khác, tạo phước báu và công đức vô cùng lớn. Điều này không chỉ giúp bản thân vượt qua khó khăn mà còn mang lại sự trợ duyên cho những người xung quanh.
  5. Chú dược sử bản tụng đọc tiếng Việt

    “Nam mô bạc già phạt đế, bệ sát xã, lũ rô bệ lưu ly, bát lạt bà, hát la xà giã, đát tha yết đa gia, a la hát đế, tam miệu tam bột đà gia, đát điệt tha.

    Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sái xã, tam một yết đế sa ha.”

     

Monday, March 25, 2019

CỬU PHẨM VÃNG SANH


CỬU PHẨM VÃNG SANH

CỬU PHẨM VÃNG SANH
A-Di-Đà Tam-Ma-Địa Tập Đa-Ra-Ni Kinh
* Đời nhà Tấn, tại chùa Hưng Thiện,
Ngài Tam tạng Sa-môn Đại Quảng Trí Bất Không dịch từ Phạn ra Hán văn.
* Việt Nam, chùa Thiền Tịnh,
Sa-môn Thích Viên Đức dịch thành Việt văn.

Bấy giờ, đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai ở nơi Đại Tam-ma-địa môn tịnh xá cùng với các bậc đại Tỳ-khưu gồm tám vạn chín ngàn người đều câu hội đầy đủ, toàn là bậc đại A-la-hán, huệ thiện đầy đủ, việc cần làm đã làm xong, các vị ấy là: Thần lực Trí Biện Quán Thế Âm Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát, Thần Thông Tự Tại Vương Bồ-tát, Tĩnh Quang Vô Cấu Đà La Ni Bồ-tát, Đại Lực Phổ Văn Bồ-tát, Đại Trang Nghiêm Lực Bồ-tát, Vô Lượng Quang Bồ-tát, Huệ Thiện Huệ Phổ Quang Vương Bồ-tát. Những vị Đại Bồ-tát và đại chúng Thanh văn như vậy đi đến chỗ Phật, bạch rằng: “Tại Vô Lượng Thọ quốc có chín phẩm Tịnh Thức Tam-ma-địa. Đây tức là cảnh giới của chư Phật, nơi Như Lai đang an ở. Chư Phật ba đời đều y theo đó mà thành Chánh giác, cụ túc tam minh, tăng trưởng phước huệ. Chín phẩm ấy là:








* Thượng Phẩm Thượng Sanh Chân Sắc Địa.
* Thượng Phẩm Trung Sanh Vô Cấu Địa.
* Thượng Phẩm Hạ Sanh Ly Cấu Địa.
* Trung Phẩm Thượng Sanh Thiện Giác Địa.
* Trung Phẩm Trung Sanh Minh Lực Địa.
* Trung Phẩm Hạ Sanh Vô Lậu Địa.
* Hạ Phẩm Thượng Sanh Chơn Giác Địa.
* Hạ Phẩm Trung Sanh Hiền Giác Địa.
* Hạ Phẩm Hạ Sanh Lạc Môn Địa.
Đây gọi là Chín phẩm Tịnh Thức chơn như cảnh. Trong ấy có bảo tượng Nội tọa gồm 12 mạn-đà-la Đại Viên Cảnh Trí. Đó là:
1. Nhất Thiết Tam Đạt Vô Lượng Quang Phật
2. Biến Giác Tam Minh Vô Biên Quang Phật
3. Trí Đạo Tam Minh Vô Ngại Quang Phật
4. Lục Chơn Lý Trí Tam Minh Vô Đối Quang Phật
5. Sắc Thiện Tam Minh Quang Viêm Vương Quang Phật
6. Nhứt Giác Tam Minh Thanh Tịnh Quang Phật
7. Phổ Môn Tam Minh Hoan Hỷ Quang Phật
8. Nhập Huệ Tam Minh Trí Tuệ Quang Phật
9. Quang Sắc Tam Minh Bất Đoạn Quang Phật
10. Minh Đạt Tam Minh Nan Tư Quang Phật
11. Ngũ Đức Tam Minh Vô Xứng Quang Phật
12. Trí Lực Tam Minh Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.
Chư Phật Như Lai như vậy là Chơn sắc cụ túc, là Bi tướng sở y của tất cả ba đời Như Lai. Nếu có chúng sanh muốn vãng sanh về Chín phẩm Tịnh độ như thế, hãy phụng quán 12 Viên diệu ấy, ngày đêm ba thời, xưng Chín phẩm Tịnh độ như vậy, xưng tán danh hiệu của 12 vị Quang Phật, tức vĩnh viễn ra khỏi nhà lửa trong ba cõi, quyết định sanh Chơn như, xa lìa Hữu lậu, vĩnh nhập Vô lậu.
Nếu có người muốn nhập cảnh Tam-ma-địa ấy, để được đầy đủ Phật huệ, thân tâm trong sạch, thì hãy quán niệm Đại Tam-ma-da Phật tướng chơn ngôn thần chú:
Án, A Mật Lật Đá Đế Tế Già Lam, Hùm.
Thiện nam tử, chơn ngôn Phạm chú nầy là tòa ngồi cứu cánh lý trí của tất cả mười phương ba đời Như Lai, là căn bản của 12 Không nguyện. Nếu đệ tử của ta muốn làm lợi lạc cho ba cõi nhơn thiên, hãy viết chép Kinh này mà thọ trì, đọc tụng sẽ tăng trưởng phước lạc, tăng ích trí tuệ, biện tài tăng trưởng, thọ mạng sắc lực, tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu diệt vạn bệnh, tăng trưởng bi ái,sắc thiện đều đầy đủ. Huống là chí tâm biên chép, đọc tụng sẽ độ cho ba đời vô sanh thay đổi nhà lửa trong Tam giới. Đã tụng trì nhứt định vãng sanh về Chín phẩm Tịnh độ của cõi Cực Lạc.
Bấy giờ, đại chúng nghe được lời Đức Phật đều đại hoan hỉ, tin thọ phụng hành.

CHUNG

than chu cung hien den dau huong hoa cho chu phat


than chu cung hien den dau huong hoa cho chu phat
Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm, đát nễ dã tha: Úm – Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta Phạ Ha
Tổng nhiếp 25 bộ đại mạn trà la ni ấn. Niệm chú trong nước hương thơm, tán sái bốn phương trên dưới mà kiết giới. Nơi chính giữa đàn vuông để một bình nước hương thơm. Người trì chú ở trong đàn mặt xoay về phương Đông, quỳ gối tụng thần chú 1.080 biến, bình nước thơm kia tự chuyển động.Taycầm các thứ hoa, chú vào 1.080 biến tán rải nơi mặt Kính Đàn (*). Lại ngó ngay trước mặt kính đàn, cũng tụng chú 1.080 biến được thấy hình tượng Phật, Bồ Tát. Liền đó chú trong hoa 1.080 biến mà tán rải cúng dường, tùy theo đó mà thưa hỏi những pháp không rõ biết.
Phật dạy: “Thần chú này có công năng diệt tất cả những tội nặng như tội ngũ nghịch, và tội thập ác, thành tựu tất cả bạch pháp. Trì giới đầy đủ thanh khiết mau chứng Bồ Đề.
Nếu người tại gia không thể đoạn dứt vợ con, rượu thịt, chỉ y pháp của ta (phật) trì tụng đều được thành tựu”.
Phật dạy: “Muốn trì chú này, phải tối ngày rằm, tắm rửa sạch sẽ, mặc toàn y phục mới, mặt hướng về Đông phương ngồi kiết bán già, thân thật ngay thẳng, để kính trước mặt, tùy sức có các vật hương, hoa, nước tịnh thủy, trước phải tịnh tâm, tuyệt dứt tư duy, nhiên hậu kiết ấn để ngang ngực, tụng chú này 108 biến. Tụng trì chú này thời có công năng khiến chúng sanh thọ mạng ngắn ngủi được trở lại tăng tuổi thọ. Bệnh già ma la tật là bệnh nan y còn được trừ lành, huống gì các bệnh khác mà không được lành thì thật là vô lý.
Phật dạy: “Nếu người ở tại gia, bình thường mỗi buổi sáng mai là thời chưa ăn ngũ tân và đồ huyết nhục, dùng nước tịnh thủy súc miệng sạch sẽ, mặt hướng về phương Đông, đối kính đàn kiết ấn, tụng thần chú 108 biến, cứ thường nhật như vậy, cho mãn 40 ngày không dứt, sẽ có việc lành tốt đẹp, đức Chuẩn Đề Bồ Tát khiến 2 vị thánh thường theo người ấy, tâm người ấy mong muốn điều chi, đều ở 2 bên tai mách nói đầy đủ.
Phật dạy: “Có chúng sanh yểu mạng nhiều bệnh hoạn, tối ngày rằm mỗi tháng, xông an tức hương, kiết ấn tụng chú 108 biến, những loài ma qủy thất tâm (điên loạn), loài dã hồ ác bịnh, đều hiện bổn thân nơi trong Kính Đàn, giết hay tha tùy ý không dám tái đến, tăng thọ vô lượng.”
Phật dạy: “Đà La Ni này có thế lực rất lớn, chí tâm tụng trì quyết phải tự chứng. Có công năng khiến cây khô phát sanh hoa, trái, huống gì nhũng quả báo ở thế gian. Nếu thường trì tụng thì thủy, hỏa, đao binh, oán gia độc dược đều không hại. Nếu người bị quỷ thần làm bịnh chết, kiết ấn tụng chú này 7 biến, lấy ấn, ấn nơi tại ngực đều khiến sống trở lại.
Phật dạy: “Nếu y pháp tụng trì, nhất tâm tinh cần, thì công lực nói không thể hết. Kính Đàn pháp này không được cho người khác thấy nếu thấy thì không tốt, mất linh nghiệm, không được thành tựu viên mãn. Pháp này cần phải bí mật, không được tuyên nói, hãy tự mình chứng biết. Tùy ý mong cầu quyết được thành tựu thọ hưởng được cái vui nhiệm mầu thù thắng”.

OAI LỰC CỦA LỤC TỰ ĐẠI MINH THẦN CHÚ

KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
OAI LỰC CỦA LỤC TỰ ĐẠI MINH THẦN CHÚ
* * *

Bộ kinh đại thừa bảo trang nghiêm này được lưu truyền của ở các quốc gia phần đông theo phật giáo như Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, và ViệtNam. Kinh này chủ yếu nói về hạnh nguyện của đức quán thế âm bồ tát và thần chú lục tự đại minh không thể nghĩ bàn. Kính mong các đạo hữu đọc qua. Con nay xin tạ ơn thầy Viên Đức đã dịch bộ kinh này để làm lợi lạc cho chúng sanh.
Nay xin trích một phần của kinh này cho để cho chúng ta biết không thể nghỉ bàn của chú lục tự đại minh:
Bấy giờ Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch đức Thế Tôn rằng: Thưa Thế Tôn! Nay sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này làm thế nào mà được?
Phật dạy: Thiện nam tử! Sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này rất khó gặp được, cho đến Như Lai mà cũng không biết chỗ sở đắc ấy thì nhơn vị Bồ Tát làm thế nào mà hay biết được! Ngài Trừ Cái Chướng bạch đức Thế Tôn rằng: Ðà Ra Ni như vậy, nay Phật Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác vì sao mà không biết ư?
Phật dạy: Thiện nam tử! Sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni đó là bổn tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát. Nếu biết vi diệu bổn tâm ấy tức biết giải thoát.
Bấy giờ Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch đức Thế Tôn rằng: Thưa Thế Tôn! Trong các hữu tình có ai biết được sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni đó chăng?
Phật dạy: Không có ai biết. Thiện nam tử! Sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này vô lượng tương ưng Như Lai mà còn khó biết huống gì là Bồ Tát làm thế nào mà biết được chổ bổn tâm vi diệu của Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát? Tôi đi trải qua các quốc độ khác cũng không biết sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này. Nếu có người thường thọ trì sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni thì khi trì tụng có chín mươi chín Căn già sa hà sa số chư Như Lai nhóm hội, có vô số Bồ Tát nhiều như vi trần nhóm hội cùng các Thánh chúng Thiên tử ở ba mươi hai cõi trời cũng đều nhóm hội. Lại có bốn Ðại Thiên Vương ở bốn phương làm hộ vệ, có Ta Nga La Long vương, Vô Nhiệt Não Long vương, Ðắc Xoa Ca Long vương, Phạ Tô Chỉ Long vương. Như vậy có vô số trăm ngàn vạn Câu chi na khố na Long vương đến hộ vệ người thọ trì ấy. Lại ở khắp trong cõi đất hết thảy các Dược Xoa Hư Không thần cũng đến hộ vệ. Thiện nam tử! Trong lỗ chân lông Ngài Quán Tự Tại đại Bồ Tát có trăm ức Như Lai an trụ và khen ngợi người trì tụng ấy: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi hãy được như ý ma ni bảo, bảy đời dòng họ của người đều sẽ đều được giải thoát.
Thiện nam tử! Người trì minh kia (kẻ trì chú) ở trong bụng có các trùng, các trùng ấy sẽ được Bất thối chuyển địa vị Bồ Tát. Nếu lại có người lấy sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này mà đeo giữ nơi thân, trên đảnh. Thiện nam tử! Nếu thấy được người đeo giữ ấy, thời cũng như thấy thân Kim Cang, như thấy tháp Xá Lợi, như thấy đức Như Lai, như thấy một trăm ức trí tuệ. Nếu có kẻ trai lành gái tín nào hay y pháp niệm sáu chữ Ðại Minh Ðà Ra Ni này, thì người đó sẽ được vô tận biện tài được trí tụ tụ thanh tịnh, được đại từ bi, như vậy người đó ngày ngày được viên mãn công đức sáu chữ Ba la mật đa. Người đó được trời Chuyển luân Thánh vương quán đảnh, người ấy lời nói hơi trong miệng phát ra, chạm đến thân người nào, người chạm được bất thoái chuyển Bồ Tát, mau chóng chứng đắc Vô thượng bồ đề Chánh đẳng chánh giác. Nếu người đeo giữ và thọ trì lấy tay chạm đến người khác, người được rờ chạm ấy mau được Bồ Tát vị. Nếu kẻ nam người nữ, con trai con gái, cho đến dị loại hữu tình khác, thấy được người đeo và thọ trì ấy, tất cả đều mau được Bồ Tát vị. người như thế đó, vĩnh viễn không còn chịu khổ sanh, già, bịnh, chết, khổ thương xa lìa, mà được sự niệm tụng tương ưng không thể nghĩ bàn. Nay như thật mà nói lên sáu chữ đại minh Ðà Ra Ni vậy.
Bộ kinh Trang Nghiêm Bảo Vương này, công đức không thể nghĩ bàn được, phúc cho những ai được xem kinh này. Nếu những người nào đã xem thì nên xem lại, sẽ được phước đức.